Thursday, March 3, 2011

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh: 2011 sẽ ‘thả’ giá theo thị trường


Người đứng đầu Bộ Tài chính cho hay, năm 2011 cơ quan này sẽ thực hiện nhiều biện pháp để kìm giá cả, tránh hiện tượng tăng đột biến, đồng thời tiến tới mục tiêu trả nhiều nhóm mặt hàng cho thị trường điều tiết.

Trước thềm năm mới với ngổn ngang những mối lo, Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh vẫn dành cho VnExpress.net buổi trò chuyện về những kỳ vọng và thách thức mà ngành tài chính sẽ phải đối mặt trong tài khóa 2011.

vu van ninh

Người đứng đầu ngành tài chính - Bộ trưởng Vũ Văn Ninh.

- Thưa Bộ trưởng, năm 2011, trọng tâm của ngành tài chính sẽ tập trung vào các vấn đề, lĩnh vực gì?

- Năm 2011, nhiệm vụ của chúng tôi là tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; tăng cường công tác quản lý thu, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về thuế; phấn đấu tăng thu ngân sách trên 5% so với dự toán. Quản lý, kiểm soát chặt chẽ chi ngân sách; kiên quyết loại trừ các khoản chi tiêu không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo quy định của pháp luật; cắt giảm các khoản chi không thực sự cần thiết, chưa thật cấp bách như hội họp, đi công tác nước ngoài… Trên cơ sở phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi, phấn đấu giảm bội chi ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và tái cấu trúc nền kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.

Bên cạnh đó, cần phải điều hành quản lý giá trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Thực hiện lộ trình điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường vào thời điểm thích hợp đối với giá cả một số hàng hóa, dịch vụ Nhà nước còn định giá như: điện, than, đất đai, tài nguyên quan trọng… hoàn thiện về mặt cơ chế, chính sách nhằm từng bước thực hiện cơ chế giá dịch vụ trong lĩnh vực y tế, giáo dục…

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm nữa mà chúng tôi đặt ra trong năm 2011 là đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm toán việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, các khoản vay, ứng chi của các cơ quan, đơn vị Nhà nước.

- Nhiều ý kiến lo ngại về lạm phát năm 2011 sẽ rất cao. Quan điểm của Bộ trưởng về vấn đề này?

- Năm 2011, theo nhiều dự báo, kinh tế toàn cầu tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng tốc độ tăng chậm hơn năm 2010. Kinh tế tăng trưởng, nhu cầu nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất vẫn tăng dẫn đến giá cả sẽ nhích lên. Bên cạnh đó, thương mại toàn cầu tiếp tục tăng trưởng khoảng 7% (nhưng vẫn thấp so với mức tăng 11,4% của năm 2010). Vì vậy giá cả thị trường vẫn có xu hướng tăng tuy tốc độ tăng có thể thấp hơn tốc độ tăng của năm 2010.

Trong nước, nền kinh tế phục hồi khá nhanh và lấy lại đà tăng trưởng sau ảnh hưởng của khủng hoảng (mục tiêu tổng sản phẩm trong nước tăng 7-7,5% so với năm 2010). Như vậy, nhu cầu nguyên, nhiên, vật liệu để phục vụ sản xuất kinh doanh cũng sẽ tăng. Tuy nhiên, những tồn tại vốn có của nền kinh tế chưa khắc phục được triệt để ngay như: cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng, nhập siêu, cán cân thanh toán, bội chi cao, hiệu quả sử dụng vốn, kết cấu hạ tầng… tiềm ẩn những yếu tố gây lạm phát. Thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động xấu đến nền kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.

Trước những khó khăn của nền kinh tế thế giới và kinh tế trong nước như trên, để thực hiện mục tiêu kiểm soát “Chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 7%” mà Nghị quyết của Quốc hội đề ra, Bộ Tài chính kiến nghị 6 biện pháp cụ thể. Trong số đó có việc đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh đầu tư, xuất khẩu, đảm bảo tăng trưởng… và đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa không để thiếu hàng; quy hoạch hệ thống cung ứng hàng hóa nhất là một số sản phẩm chủ yếu theo chỉ đạo của Thủ tướng.

Ngoài ra, chúng tôi cũng đề xuất các biện pháp liên quan đến chính sách tài khóa, phấn đấu tăng thu, giảm bội chi ngân sách, huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ với lãi suất hợp lý. Đồng thời, chúng tôi cũng thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan đã cam kết với WTO, rà soát và bãi bỏ các khoản phí bất hợp lý. Đối với mặt hàng xăng dầu, chúng tôi sẽ tiếp tục sử dụng quỹ bình ổn, công cụ phí, thuế để kiểm soát giá.

- Vậy năm 2011, Bộ Tài chính sẽ sử dụng các biện pháp gì để kiểm soát thị trường giá cả để tránh nguy cơ “bung” khi hầu hết các mặt hàng thiết yếu bị kìm quá lâu?

- Chúng tôi đã bàn tới rất nhiều biện pháp, trong đó có việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giá theo hướng thị trường. Nghĩa là, giá cả sẽ do thị trường điều tiết. Chúng tôi tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, thông qua việc xây dựng Luật giá thay cho Pháp lệnh giá. Đồng thời, chúng tôi cũng sửa đổi và bổ sung các Nghị định của Chính phủ về thẩm định giá; xử lý vi phạm trong lĩnh vực giá, cơ chế xác định giá trong các lĩnh vực cụ thể…

Ngoài ra, chúng tôi cũng chủ động thực hiện tốt công tác dự báo thị trường, giá cả trong và ngoài nước. Triển khai và thực hiện các biện pháp bình ổn giá theo quy định của Pháp lệnh giá. Một trong những công việc của năm 2011 là phải chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh giá theo cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước vào thời điểm thích hợp trong năm đối với giá cả một số hàng hóa, dịch vụ Nhà nước còn định giá như điện, than, nước sạch, đất đai, tài nguyên quan trọng, các loại giá dịch vụ… Tuy nhiên, lộ trình giá thị trường phải được gắn kết chặt chẽ với hoàn thiện hệ thống cung ứng hàng hóa, dịch vụ.

- Liệu có xảy ra hiện tượng giá xăng dầu bị kìm quá lâu, trong khi doanh nghiệp bị lỗ nặng sẽ dẫn hiện tượng khi tăng thì giá sẽ đột biến, thưa ông?

- Để kiềm chế lạm phát trong năm 2010, Nhà nước đã sử dụng các công cụ tài chính nhằm thực hiện bình ổn giá (không phải là ổn định giá) một số vật tư đầu vào cơ bản của nền kinh tế (điện, than bán cho sản xuất điện, xăng dầu…). Vì vậy, trong năm 2010 giá một số vật tư nói trên về cơ bản là không biến động nhiều.

Chủ trương thực hiện kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là chủ trương nhất quán. Giá các hàng hóa, dịch vụ cần thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, để hạn chế tác động bất lợi tới nền kinh tế và đời sống người dân thì cần phải có bước đi, lộ trình và thời điểm thích hợp, không để tăng đột biến.

Đồng thời các ngành, các cấp cần chủ động thực hiện đồng bộ các biện pháp bình ổn giá thị trường, đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa và có chính sách hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách; tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai, thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý giá.

Hồng Anh


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Tuesday, March 1, 2011

Trao đổi với ông Vũ Văn Ninh về việc tăng giá xăng, dầu và giá bán điện


vu-van-ninh

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh (Nguồn: Internet).

Xin Bộ trưởng cho biết cơ sở nào để điều chỉnh giá xăng, dầu và giá điện lần này? 

Chúng ta đã kiềm chế giá bán điện quá lâu, nếu lần này không điều chỉnh mà đợi tới khi điều chỉnh một lần cho phù hợp thì có thể gây sốc cho nền kinh tế, tác động lớn tới đời sống xã hội. Nếu phải điều chỉnh một lần thì giá điện có thể tăng tới 62% so với giá hiện hành, tương đương 670 đồng/kWh.

Tuy nhiên, để hạn chế tác động bất lợi đối với nền kinh tế, đời sống của người dân thì lần này Chính phủ chỉ điều chỉnh bước đầu trên nguyên tắc Nhà nước phải lùi khấu hao tới 90%, tức là chỉ tính 10% khấu hao của ngành điện vào giá thành. Thứ hai, dừng thu một số khoản phí ví dụ như phí môi trường.

Thứ ba là ngành điện tạm thời chưa có lãi, chưa tính lãi vào giá thành. Thứ tư là giá than bán cho ngành điện vẫn ở mức thấp. Thứ năm là các khoản lỗ lớn trước đây của ngành điện tiếp tục được khoanh lại. Do vậy, mức điều chỉnh rất nhỏ, chỉ 165 đồng/kWh.

Với giá xăng dầu cũng vậy, giá xăng dầu của chúng ta đã đi theo tín hiệu thị trường từ cuối năm 2009, đến cuối năm 2010, tình hình lạm phát tăng nhưng Chính phủ có chủ trương chưa điều chỉnh giá. Chính vì bị kìm nén giá nên ngành xăng dầu gặp nhiều khó khăn, giá xăng ở Việt Nam bán thấp hơn so với Lào tới 8.000 đồng/lít. Nếu phải điều chỉnh thì chúng ta phải điều chỉnh khoảng 6.400 đồng/lít, nhưng Chính phủ cũng thấy rằng, nếu điều chỉnh như vậy sẽ tác động xấu tới kinh tế xã hội.

Do vậy, việc điều chỉnh giá xăng lần này cũng chỉ là điều chỉnh bước đầu. Việc điều chỉnh lần này dựa trên nguyên tắc là lùi thuế nhập khẩu xăng, dầu từ mức 2-5% về 0%; thứ hai, ngành xăng, dầu cũng tạm thời chưa tính lãi, thứ ba là toàn bộ lỗ cũ vẫn “treo” lại. Trên tinh thần đó, Chính phủ chỉ điều chỉnh giá xăng tăng 2.900 đồng/lít, vẫn thấp hơn giá xăng tại Lào khoảng 5.000 đồng/lít.

Chúng ta lựa chọn bước đi như vậy là phù hợp và hợp lý trong bối cảnh hiện nay.

Trong Nghị quyết của Chính phủ về việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô có đề cập đến việc tăng thu và giảm chi. Vậy Bộ Tài chính làm thế nào để hoàn thành được nhiệm vụ này? 

Đây cũng là vấn đề phức tạp và khó khăn, nhưng chúng tôi sẽ tăng cường biện pháp chống thất thu cho ngân sách và quản lý để chống nợ đọng thuế. Thứ hai là tập trung chống chuyển giá, nhất là các doanh nghiệp FDI. Vừa rồi chúng ta cũng đã làm tương đối thành công và huy động được một nguồn lớn cho ngân sách bằng việc kiểm soát buôn lậu qua biên giới. Nếu quản lý tốt được những phần này thì khả năng tăng thu ngân sách năm nay đạt mức Chính phủ đề ra là 7-8%. Trên cơ sở đó thì chúng ta có thể giảm mức bội chi từ 5,3% xuống dưới 5%.

Trên cơ sở của Nghị quyết này thì đâu sẽ là phần việc khó khăn nhất của ngành tài chính trong năm nay, thưa Bộ trưởng? 

Khó khăn nhất là kiềm chế lạm phát, kiểm soát giá cả thị trường trong nước. Giá hàng hóa thế giới hiện tăng rất nhanh và mạnh, mà có tới 70% nguyên, nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất chúng ta phải nhập khẩu. Do vậy, việc kiểm soát giá là khá phức tạp. Vì thế, ngoài các chính sách vĩ mô của các bộ, ngành ở Trung ương, thì cần sự ra quân đồng bộ ở các địa phương. Vấn đề tăng thu và tiết kiệm chi trong bối cảnh hiện nay cũng đòi hỏi sự đồng thuận của toàn hệ thống chính trị thì mới thực hiện được.

Xin cảm ơn ông!

Theo baotintuc

(Theo website Vũ Văn Ninh)

Sunday, February 6, 2011

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh: 2011 sẽ ‘thả’ giá theo thị trường


Người đứng đầu Bộ Tài chính cho hay, năm 2011 cơ quan này sẽ thực hiện nhiều biện pháp để kìm giá cả, tránh hiện tượng tăng đột biến, đồng thời tiến tới mục tiêu trả nhiều nhóm mặt hàng cho thị trường điều tiết.

Trước thềm năm mới với ngổn ngang những mối lo, Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh vẫn dành cho VnExpress.net buổi trò chuyện về những kỳ vọng và thách thức mà ngành tài chính sẽ phải đối mặt trong tài khóa 2011.

 

vu-van-Ninh

Người đứng đầu ngành tài chính - Bộ trưởng Vũ Văn Ninh.

- Thưa Bộ trưởng, năm 2011, trọng tâm của ngành tài chính sẽ tập trung vào các vấn đề, lĩnh vực gì?

- Năm 2011, nhiệm vụ của chúng tôi là tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; tăng cường công tác quản lý thu, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về thuế; phấn đấu tăng thu ngân sách trên 5% so với dự toán. Quản lý, kiểm soát chặt chẽ chi ngân sách; kiên quyết loại trừ các khoản chi tiêu không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo quy định của pháp luật; cắt giảm các khoản chi không thực sự cần thiết, chưa thật cấp bách như hội họp, đi công tác nước ngoài… Trên cơ sở phấn đấu tăng thu, tiết kiệm chi, phấn đấu giảm bội chi ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và tái cấu trúc nền kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.

Bên cạnh đó, cần phải điều hành quản lý giá trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Thực hiện lộ trình điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường vào thời điểm thích hợp đối với giá cả một số hàng hóa, dịch vụ Nhà nước còn định giá như: điện, than, đất đai, tài nguyên quan trọng… hoàn thiện về mặt cơ chế, chính sách nhằm từng bước thực hiện cơ chế giá dịch vụ trong lĩnh vực y tế, giáo dục…

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm nữa mà chúng tôi đặt ra trong năm 2011 là đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm toán việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, các khoản vay, ứng chi của các cơ quan, đơn vị Nhà nước.

- Nhiều ý kiến lo ngại về lạm phát năm 2011 sẽ rất cao. Quan điểm của Bộ trưởng về vấn đề này?

- Năm 2011, theo nhiều dự báo, kinh tế toàn cầu tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng tốc độ tăng chậm hơn năm 2010. Kinh tế tăng trưởng, nhu cầu nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất vẫn tăng dẫn đến giá cả sẽ nhích lên. Bên cạnh đó, thương mại toàn cầu tiếp tục tăng trưởng khoảng 7% (nhưng vẫn thấp so với mức tăng 11,4% của năm 2010). Vì vậy giá cả thị trường vẫn có xu hướng tăng tuy tốc độ tăng có thể thấp hơn tốc độ tăng của năm 2010.

Trong nước, nền kinh tế phục hồi khá nhanh và lấy lại đà tăng trưởng sau ảnh hưởng của khủng hoảng (mục tiêu tổng sản phẩm trong nước tăng 7-7,5% so với năm 2010). Như vậy, nhu cầu nguyên, nhiên, vật liệu để phục vụ sản xuất kinh doanh cũng sẽ tăng. Tuy nhiên, những tồn tại vốn có của nền kinh tế chưa khắc phục được triệt để ngay như: cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng, nhập siêu, cán cân thanh toán, bội chi cao, hiệu quả sử dụng vốn, kết cấu hạ tầng… tiềm ẩn những yếu tố gây lạm phát. Thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động xấu đến nền kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.

Trước những khó khăn của nền kinh tế thế giới và kinh tế trong nước như trên, để thực hiện mục tiêu kiểm soát “Chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 7%” mà Nghị quyết của Quốc hội đề ra, Bộ Tài chính kiến nghị 6 biện pháp cụ thể. Trong số đó có việc đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh đầu tư, xuất khẩu, đảm bảo tăng trưởng… và đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa không để thiếu hàng; quy hoạch hệ thống cung ứng hàng hóa nhất là một số sản phẩm chủ yếu theo chỉ đạo của Thủ tướng.

Ngoài ra, chúng tôi cũng đề xuất các biện pháp liên quan đến chính sách tài khóa, phấn đấu tăng thu, giảm bội chi ngân sách, huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ với lãi suất hợp lý. Đồng thời, chúng tôi cũng thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan đã cam kết với WTO, rà soát và bãi bỏ các khoản phí bất hợp lý. Đối với mặt hàng xăng dầu, chúng tôi sẽ tiếp tục sử dụng quỹ bình ổn, công cụ phí, thuế để kiểm soát giá.

- Vậy năm 2011, Bộ Tài chính sẽ sử dụng các biện pháp gì để kiểm soát thị trường giá cả để tránh nguy cơ “bung” khi hầu hết các mặt hàng thiết yếu bị kìm quá lâu?

- Chúng tôi đã bàn tới rất nhiều biện pháp, trong đó có việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giá theo hướng thị trường. Nghĩa là, giá cả sẽ do thị trường điều tiết. Chúng tôi tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, thông qua việc xây dựng Luật giá thay cho Pháp lệnh giá. Đồng thời, chúng tôi cũng sửa đổi và bổ sung các Nghị định của Chính phủ về thẩm định giá; xử lý vi phạm trong lĩnh vực giá, cơ chế xác định giá trong các lĩnh vực cụ thể…

Ngoài ra, chúng tôi cũng chủ động thực hiện tốt công tác dự báo thị trường, giá cả trong và ngoài nước. Triển khai và thực hiện các biện pháp bình ổn giá theo quy định của Pháp lệnh giá. Một trong những công việc của năm 2011 là phải chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh giá theo cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước vào thời điểm thích hợp trong năm đối với giá cả một số hàng hóa, dịch vụ Nhà nước còn định giá như điện, than, nước sạch, đất đai, tài nguyên quan trọng, các loại giá dịch vụ… Tuy nhiên, lộ trình giá thị trường phải được gắn kết chặt chẽ với hoàn thiện hệ thống cung ứng hàng hóa, dịch vụ.

- Liệu có xảy ra hiện tượng giá xăng dầu bị kìm quá lâu, trong khi doanh nghiệp bị lỗ nặng sẽ dẫn hiện tượng khi tăng thì giá sẽ đột biến, thưa ông?

- Để kiềm chế lạm phát trong năm 2010, Nhà nước đã sử dụng các công cụ tài chính nhằm thực hiện bình ổn giá (không phải là ổn định giá) một số vật tư đầu vào cơ bản của nền kinh tế (điện, than bán cho sản xuất điện, xăng dầu…). Vì vậy, trong năm 2010 giá một số vật tư nói trên về cơ bản là không biến động nhiều.

Chủ trương thực hiện kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là chủ trương nhất quán. Giá các hàng hóa, dịch vụ cần thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, để hạn chế tác động bất lợi tới nền kinh tế và đời sống người dân thì cần phải có bước đi, lộ trình và thời điểm thích hợp, không để tăng đột biến.

Đồng thời các ngành, các cấp cần chủ động thực hiện đồng bộ các biện pháp bình ổn giá thị trường, đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa và có chính sách hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách; tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai, thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý giá.

Hồng Anh


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Thursday, December 9, 2010

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh thân mật tiếp Đại sứ Nhật Bản


Ngày 09/12/2010, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh đã thân mật tiếp Đại sứ Nhật Bản, Yasuaki Tanizaki. Bộ trưởng chúc mừng ông Yasuaki Tanizaki đã giữ chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Việt Nam.

Bộ trưởng đánh giá cao sự giúp đỡ của Nhật Bản đối với Việt Nam thời gian qua, đặc biệt Nhật Bản là nước dẫn đầu trong tài trợ song phương cho Việt Nam. Hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng chặt chẽ được thể hiện trên nhiều phương diện, cụ thể kim ngạch thương mại giữa hai nước trong thời gian qua tăng mạnh. Theo đó, Nhật Bản trở thành một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam.

vu-van-ninh

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh đã thân mật tiếp Đại sứ Nhật Bản

Đại sứ cho biết rằng Chính phủ Nhật Bản luôn đánh giá cao Việt Nam trong việc điều hành kinh tế để vượt qua thời kỳ khủng hoảng thời gian qua. Ngoài ra, ông khẳng định cho dù thời gian nhậm chức trong hai tháng qua tại Việt Nam của ông là chưa nhiều nhưng đây là thời gian rất có ý nghĩa bởi trong thời gian đó đã diễn ra Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Việt Nam. Đại sứ cũng cho biết, trong cam kết hỗ trợ toàn diện của Nhật Bản đối với Việt Nam ngoài lĩnh vực kinh tế còn bao hàm cả lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đầu tư, từ đó hỗ trợ Việt Nam xây dựng một nền kinh tế ổn định.

Bộ trưởng cảm ơn Chính phủ Nhật Bản đã có những hỗ trợ nguồn lực cho Việt Nam về mặt kinh tế để vượt qua khủng hoảng thời gian qua. Bên cạnh đó, trong khu vực ASEAN+3, Nhật Bản cũng là nước đã tích cực hỗ trợ Việt Nam hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm 2010. Nhật Bản. Cụ thể, sự trợ giúp của Nhật Bản đã được thể hiện trong đầu tư vào nhiều lĩnh vực của ngành tài chính thời gian qua như sự hỗ trợ trong lĩnh vực hải quan (máy soi container tại Tân cảng Cát Lái, Hải Phòng, Lao Bảo) cũng như công tác đào tạo. Bộ trưởng bày tỏ mong muốn ngài Đại sứ sẽ phát huy vai trò của mình nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển và tiếp tục hỗ trợ Bộ Tài chính Việt Nam thời gian tới.

PV


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Thursday, November 4, 2010

Bộ trưởng Vũ Văn Ninh: “Cho phép cá cược bóng đá để quản lý”


Theo Bộ trưởng Vũ Văn Ninh, các quy định hiện nay chưa cho phép nhưng nhiều người vẫn lén lút chơi cá độ. Tuy nhiên, khi đặt vấn đề hợp pháp hóa, cơ quan quản lý cũng phải cân nhắc cho làm từ từ, thí điểm rồi mới mở rộng.

Câu chuyện hợp pháp hóa cá cược bóng đá từng được Ủy ban Thể dục Thể thao (cũ) đề cập từ năm 2006, đến nay lại được xới lên khi Bộ Tài chính xây dựng dự thảo nghị định quy định các đối tượng được phép tham gia đặt cược. Hồi đó, đơn vị xây dựng dự thảo đề cập đến việc cho phép mỗi cá nhân chỉ được đặt cược một triệu đồng mỗi ngày. Nay Bộ Tài chính cũng đề xuất con số này, tối đa 10.000 đồng cho mỗi lần đặt cược và không vượt quá một triệu đồng một người mỗi ngày.

VuVanNinh

Bộ trưởng tài chính Vũ Văn Ninh

Trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 2/11, Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh cho rằng nên hợp pháp hóa loại hình này để Nhà nước có thể quản lý. Theo ông Ninh, trên thế giới, các hoạt động đặt cược đã được hợp pháp hóa từ lâu, nay đã phát triển cả về quy mô và hình thức, nhưng ở Việt Nam do mức độ nhạy cảm nên loại hình dịch vụ này được đề cập rất dè dặt.

Hiện, việc đặt cược mới được hợp thức hóa với 2 loại hình đua chó và đua ngựa. Còn thể thao, Bộ Tài chính mới đưa vào diện cân nhắc thí điểm trong dự thảo nghị định về quản lý.“Thể thao, nhất là môn bóng đá đang thu hút sự chú ý của nhiều người, tôi cho rằng đã đến lúc cần đưa vào diện quản lý, có quy định rõ ràng để tạo môi trường lành mạnh, sân chơi tốt hơn cho mọi người, tranh hiện tượng cá độ chui lủi”, ông Ninh nói.

Ông Ninh cho biết Bộ Tài chính đề xuất trước mắt chỉ doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh dịch vụ đặt cược, sau khi thí điểm thành công, hoạt động tốt mới mở rộng đối tượng kinh doanh. Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ không được tham gia lĩnh vực này, nếu có cũng chỉ theo hình thức hợp tác trao đổi kỹ thuật.

Tuần trước, Bộ Tài chính bắt đầu tổ chức lấy ý kiến các bộ ngành có liên quan về việc hợp pháp hóa dịch vụ đặt cược. Theo dự thảo, có 3 loại hình đặt cược được thực hiện tại Việt Nam, gồm đua ngựa, đua chó và đặt cược thể thao. Đối với hình thức đặt cược thể thao, trước mắt, Bộ Tài chính đề xuất thí điểm với bóng đá trên cơ sở căn cứ kết quả trận đấu khi kết thúc các hiệp đấu hoặc kết quả chung cuộc… Sau quá trình thí điểm, việc mở rộng kinh doanh sang các loại hình khác sẽ do Bộ Tài chính tiếp tục chủ trì, lấy ý kiến xây dựng và trình Thủ tướng xem xét, quyết định.

Dự thảo nghị định quy định các đối tượng được phép tham gia đặt cược phải có năng lực hành vi dân sự và tự nguyện chấp hành các quy định tại nghị định này. Các đối tượng như cán bộ, quản lý, điều hành, nhân viên trong đơn vị tổ chức, hay hội đồng giám sát cuộc đua… không được phép tham gia đặt cược.

PV

 


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Monday, October 25, 2010

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trình bày Tờ trình ban hành Nghị quyết của Quốc hội


Chiều 25/10, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Thảo luận về Nghị quyết của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Hầu hết, các ý kiến thảo luận đều nhất trí cao là cần thiết ban hành Nghị quyết của Quốc hội về tiếp tục miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

vu-van-ninh

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trình bày Tờ trình về việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp nhằm thể chế hóa chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc tạo động lực tích lũy vốn, tăng đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp và nâng cao đời sống của người dân khu vực nông thôn theo tinh thần Nghị quyết số 26/NQ/TW ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khuyến khích đầu tư, giảm nhẹ khó khăn, nâng cao đời sống nông dân, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển, giữ vững an ninh lương thực quốc gia, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, đa số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách tán thành việc tiếp tục thực hiện miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo và đề nghị Quốc hội xem xét, ban hành Nghị quyết về vấn đề này tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XII.

Các ý kiến thống nhất cho rẳng để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích đầu tư, giảm nhẹ khó khăn, nâng cao đời sống nông dân, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển, giữ vững an ninh lương thực quốc gia, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền… thì việc đề nghị Quốc hội xem xét, ban hành Nghị quyết này là cần thiết.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, trước mắt có thể tiếp tục thực hiện chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, song về lâu dài, cần thiết phải thu thuế đối với việc sử dụng đất nông nghiệp vì: Thứ nhất,về nguyên tắc, đã sử dụng tài nguyên đất đai thì phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước; Thứ hai,thực tế cho thấy, trong thực hiện chính sách miễn, giảm thuế, bên cạnh những kết quả tích cực cũng phát sinh tồn tại trong quản lý, sử dụng đất đai như sử dụng kém hiệu quả, bỏ hoang hóa đất tại một số địa phương; Thứ ba, cần hạn chế tối đa việc miễn, giảm thuế nhằm bảo đảm bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng sử dụng đất đối với Nhà nước, bình đẳng giữa các lĩnh vực kinh tế và giữ được tính trung lập của chính sách thuế.

Một số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị miễn toàn bộ (100%) số thuế sử dụng đất nông nghiệp phải nộp đối với mọi đối tượng sử dụng đất nông nghiệp đúng mục đích vì cho rằng, số thu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện nay không lớn (chỉ khoảng 84 tỷ đồng/năm), khó bù đắp chi phí hành thu. Việc miễn toàn bộ số thuế phải nộp sẽ tạo tâm lý đồng thuận trong nhân dân, góp phần khuyến khích nông dân yên tâm sản xuất, tạo động lực mạnh mẽ để thực hiện chính sách “tam nông”.

Nhiều đại biểu thảo luận tại tổ đề nghị miễn toàn bộ (100%) số thuế sử dụng đất nông nghiệp phải nộp đối với mọi đối tượng sử dụng đất nông nghiệp đúng mục đích vì cho rằng việc miễn toàn bộ số thuế phải nộp sẽ tạo tâm lý đồng thuận trong nhân dân, góp phần khuyến khích nông dân yên tâm sản xuất.

Có ý kiến đề nghị, đối với đối tượng thuộc diện miễn thuế theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 1 của Dự thảo Nghị quyết (vừa thuộc diện miễn thuế đối với diện tích đất nông nghiệp trong hạn mức, vừa thuộc diện miễn thuế đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp) thì quy định rõ là được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp.

Đại biểu Trương Thị Xê (Đắk Lắk) nhất trí với quan điểm của Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng về chính sách, chỉ miễn cho hộ gia đình, cá nhân là xã viên Hợp tác xã, nông trường viên, lâm trường viên, nên đề nghị bỏ quy định về miễn thuế cho đối tượng nhận đất giao khoán ổn định theo quy định của pháp luật của “doanh nghiệp” tại điểm b, điểm c khoản 3 Điều 1 của Dự thảo Nghị quyết.

Đại biểu Vũ Viết Ngoạn (Khánh Hòa) cho rằng an ninh lương thực quốc gia cần phải có chiến lược rõ hơn hiện nay. Quy hoạch nông nghiệp của nước ta là rất yếu, mặt khác tình hình sử dụng đất đai ở các nông trường là rất lãng phí. Đại biểu đề nghị, đối tượng được hưởng miễn, giảm cần rà soát để tránh tình trạng sử dụng sai mục đích mà vẫn được hưởng miễn giảm.

Về thời hạn miễn, giảm thuế, để tạo căn cứ pháp lý ổn định cho chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp trong nhiều năm tiếp theo, động viên nông dân yên tâm sản xuất, đa số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách tán thành thời hạn miễn, giảm là 10 năm (2011 – 2020).

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, thời hạn miễn, giảm 10 năm là tương đối dài; chỉ nên miễn, giảm cho giai đoạn 5 năm, sau đó tổng kết, sửa đổi toàn diện và ban hành một đạo luật chung về chính sách thuế đối với đất đai (đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp) để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Đại biểu Vũ Quang Hải (Hưng Yên) đề nghị miễn, giảm thuế trong 5 năm (2011-2015) sau đó tổng kết để sửa đổi toàn diện Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp. Đại biểu Dương Kim Anh (Trà Vinh) đề xuất miễn, giảm thuế trong 10 năm (2011-2020).

Cũng trong chiều nay, các đại biểu thảo luận về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Theo Tờ trình của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì quan điểm chỉ đạo xây dựng dự án Luật nhằm góp phần bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và là ngày hội của toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Kế thừa và phát huy những ưu điểm, những quy định vẫn còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn, khắc phục được những hạn chế, bất cập trong những quy định của 2 Luật trên nhằm bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam; Tập trung sửa đổi, bổ sung một số vấn đề vướng mắc thật sự cấp bách của các luật về bầu cử do tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu HĐND các cấp trong cùng một ngày và trong điều kiện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại một số địa phương.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung 2 Luật trên có cấu trúc nội dung của một Luật sửa đổi, bổ sung nhiều Luật với 4 điều, bao gồm Điều 1 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; Điều 2 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Điều 3 quy định về việc đổi tên gọi các tổ chức phụ trách bầu cử; Điều 4 quy định về hiệu lực thi hành.

Khi thảo luận các đại biểu đều cho rằng để việc tổ chức thực hiện cuộc bầu cử chung Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) trong cùng một ngày có tính khả thi, bảo đảm thuận lợi, tiết kiệm cần phải có sự thống nhất về một số quy định giữa Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu HĐND.

Nhiều ý kiến cho rằng chỉ nên tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các vấn đề thật sự cấp bách nhằm tháo gỡ những vướng mắc khi thực hiện bầu cử chung đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong cùng một ngày; không đặt vấn đề sửa đổi cơ bản Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại các địa phương thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường nhiều ý kiến tán thành với Tờ trình của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chính phủ đang tiến hành tổng kết việc thực hiện thí điểm và sẽ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, trình Quốc hội xem xét, quyết định về vấn đề này vào kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII.

Ngày mai, thứ ba, ngày 26-10-2010 Quốc hội làm việc ở hội trường. Buổi sáng, Quốc hội thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Viên chức. Buổi chiều, Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm./.

Thanh Hoa


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Wednesday, October 20, 2010

Bộ trưởng Vũ Văn Ninh báo cáo về thực hiện dự toán Ngân sách Nhà nước


Ủy ban Tài chính – Ngân sách cơ bản thống nhất với đề nghị của Chính phủ về việc điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu năm 2011 từ 730.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, thực hiện phụ cấp công vụ 10%, phụ cấp thâm niêm đối với nhà giáo.

VuVanNinh

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh (ảnh: Việt Hưng).

 

Đây là nội dung do Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh báo cáo về tình hình thực hiện dự toán Ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2010, dự toán NSNN và phương án bổ sung Ngân sách trung ương năm 2011. Theo đó, một số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng: Tốc độ tăng chi thường xuyên là quá cao (19%), nếu bao gồm cả chi cải cách tiền lương (27.000 tỷ đồng) thì tốc độ tăng chi thường xuyên còn cao hơn.
Do đó, đề nghị Chính phủ cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên để giảm áp lực tăng chi NSNN rất lớn trong khi thu NSNN chỉ tăng 13,5%; bố trí tăng chi quản lý hành chính ở mức hợp lý… đồng thời nghiên cứu trình Quốc hội cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính và biên chế.
Đối với chi đầu tư phát triển, theo Ủy ban Tài chính – Ngân sách, nhu cầu đầu tư vốn phát triển của nền kinh tế là rất lớn và việc bố trí NSNN hiện nay cũng chỉ đáp ứng được một phần của nhu cầu đó.
Tuy nhiên, trong điều kiện NSNN còn có hạn, bội chi NSNN còn cao, dư nợ Chính phủ càng gần đến giới hạn an toàn thì số vốn NSNN dành cho chi đầu tư phát triển năm 2011 là một cố gắng rất lớn trong vố trí vốn đầu tư. Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành địa phương có các biện pháp tích cực để huy động vốn đầu tư thông qua các biện pháp xã hội hóa, đa dạng hóa các hình thức đầu tư và tích cực thu hút nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác, giảm dần tỷ trọng vốn đầu tư từ NSNN.
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến đề nghị Chính phủ cơ cấu lại và có tính toán cụ thể về số chi đầu tư cho phù hợp, điều chỉnh ở mức hợp lý với khả năng của NSNN.
Đồng thời Chính phủ cần tổng kết, đánh giá lại các công trình, dự án sử dụng vốn NSNN một cách toàn diện; xem xét tính hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng; kiên quyết loại bỏ khỏi danh m,ục các công trình, dự án không đủ thủ tục đầu tư, kém hiệu quả, từ đó đề xuất danh mục dự án, công trình thực hiện trong năm 2011 và các năm tiếp theo theo hướng hiệu quả cao, tránh dàn trải, phân tán.
Về tình hình thu NSNN năm 2010, báo cáo của Chính phủ cho thấy tổng thu NSNN ước cả năm đạt 520.100 tỷ đồng, vượt 12,7% (tương đương 58.600 tỷ đồng) so với dự toán, với hầu hết các khoản thu đều hoàn thành vượt dự toán, kể cả thu phí xăng dầu nhiều năm không đạt dự toán.
Ủy ban Tài chính – Ngân sách nhận xét: Chính phủ đã đánh giá tình hình thu NSNN khá tích cực so với nhiều năm trước; tuy nhiên đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, đánh giá sát thực số thu NSNN năm 2010 để làm căn cứ xây dựng dự toán năm 2011 – năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách.
Đây cũng là căn cứ để chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tăng cường quản lý thu ngân sách, khai thác tốt nguồn thu, chống thất thu, tích cực đôn đốc thu những tháng cuối năm, hạn chế số thuế nợ đọng để số thu đạt kết quả tích cực hơn.
Phân tích các nguồn thu cho thấy, thu nội địa ước đạt 325.000 tỷ đồng, vượt 10,3% so với dự toán. Trong đó, thu từ khu vực kinh tế quốc doanh tăng 8,5% so dự toán, tăng 28,9% so với năm trước là nhân tố khá tích cực.
Còn số thu từ dầu thô ước thực hiện cả năm đạt 68.600 tỷ đồng, tăng 3,5% so với dự toán, với sản lượng thanh toán đạt 14,67 triệu tấn, giá bán bình quân ở mức 73 USD/thùng. Theo Ủy ban Tài chính – Ngân sách, số thu từ dầu thô phụ thuộc nhiều vào yếu tố giá cả thị trường thế giới, do đó nhất trí với Chính phủ về số ước thực hiện.
Về định hướng sử dụng số vượt thu của NSNN 58.600 tỷ đồng, trong đó ước ngân sách trung ương vượt thu 35.600 tỷ đồng, ngân sách địa phương vượt 23.000 tỷ đồng, Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng: Số bội chi NSNN nhiều năm gần đây khá lớn, trong khi số tăng thu chưa thực sự được ưu tiên để giảm bộ chi.
Vì vậy, số tăng thu năm 2010 là cơ hội tốt để xử lý các vấn đề tài chính, cần được ưu tiên sử dụng để tăng chi trả nợ và giảm bội chi. Đa số ý kiến trong Ủy ban đề nghị nên dành mức từ 6.000 đến 10.000 tỷ đồng để giảm bội chi NSNN năm 2010 nhằm giảm áp lực về tăng bội chi NSNN những năm sau.
Đồng thời Chính phủ sớm tổng hợp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về phương án phân bổ chi tiết số vượt thu Ngân sách trung ương năm 2010 trước khi thực hiện.
Nhóm PV

(Theo website Vũ Văn Ninh)