Monday, October 25, 2010

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trình bày Tờ trình ban hành Nghị quyết của Quốc hội


Chiều 25/10, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Thảo luận về Nghị quyết của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Hầu hết, các ý kiến thảo luận đều nhất trí cao là cần thiết ban hành Nghị quyết của Quốc hội về tiếp tục miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

vu-van-ninh

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trình bày Tờ trình về việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp nhằm thể chế hóa chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc tạo động lực tích lũy vốn, tăng đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp và nâng cao đời sống của người dân khu vực nông thôn theo tinh thần Nghị quyết số 26/NQ/TW ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khuyến khích đầu tư, giảm nhẹ khó khăn, nâng cao đời sống nông dân, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển, giữ vững an ninh lương thực quốc gia, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, đa số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách tán thành việc tiếp tục thực hiện miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo và đề nghị Quốc hội xem xét, ban hành Nghị quyết về vấn đề này tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XII.

Các ý kiến thống nhất cho rẳng để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích đầu tư, giảm nhẹ khó khăn, nâng cao đời sống nông dân, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển, giữ vững an ninh lương thực quốc gia, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền… thì việc đề nghị Quốc hội xem xét, ban hành Nghị quyết này là cần thiết.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, trước mắt có thể tiếp tục thực hiện chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, song về lâu dài, cần thiết phải thu thuế đối với việc sử dụng đất nông nghiệp vì: Thứ nhất,về nguyên tắc, đã sử dụng tài nguyên đất đai thì phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước; Thứ hai,thực tế cho thấy, trong thực hiện chính sách miễn, giảm thuế, bên cạnh những kết quả tích cực cũng phát sinh tồn tại trong quản lý, sử dụng đất đai như sử dụng kém hiệu quả, bỏ hoang hóa đất tại một số địa phương; Thứ ba, cần hạn chế tối đa việc miễn, giảm thuế nhằm bảo đảm bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng sử dụng đất đối với Nhà nước, bình đẳng giữa các lĩnh vực kinh tế và giữ được tính trung lập của chính sách thuế.

Một số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị miễn toàn bộ (100%) số thuế sử dụng đất nông nghiệp phải nộp đối với mọi đối tượng sử dụng đất nông nghiệp đúng mục đích vì cho rằng, số thu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện nay không lớn (chỉ khoảng 84 tỷ đồng/năm), khó bù đắp chi phí hành thu. Việc miễn toàn bộ số thuế phải nộp sẽ tạo tâm lý đồng thuận trong nhân dân, góp phần khuyến khích nông dân yên tâm sản xuất, tạo động lực mạnh mẽ để thực hiện chính sách “tam nông”.

Nhiều đại biểu thảo luận tại tổ đề nghị miễn toàn bộ (100%) số thuế sử dụng đất nông nghiệp phải nộp đối với mọi đối tượng sử dụng đất nông nghiệp đúng mục đích vì cho rằng việc miễn toàn bộ số thuế phải nộp sẽ tạo tâm lý đồng thuận trong nhân dân, góp phần khuyến khích nông dân yên tâm sản xuất.

Có ý kiến đề nghị, đối với đối tượng thuộc diện miễn thuế theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 1 của Dự thảo Nghị quyết (vừa thuộc diện miễn thuế đối với diện tích đất nông nghiệp trong hạn mức, vừa thuộc diện miễn thuế đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp) thì quy định rõ là được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp.

Đại biểu Trương Thị Xê (Đắk Lắk) nhất trí với quan điểm của Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng về chính sách, chỉ miễn cho hộ gia đình, cá nhân là xã viên Hợp tác xã, nông trường viên, lâm trường viên, nên đề nghị bỏ quy định về miễn thuế cho đối tượng nhận đất giao khoán ổn định theo quy định của pháp luật của “doanh nghiệp” tại điểm b, điểm c khoản 3 Điều 1 của Dự thảo Nghị quyết.

Đại biểu Vũ Viết Ngoạn (Khánh Hòa) cho rằng an ninh lương thực quốc gia cần phải có chiến lược rõ hơn hiện nay. Quy hoạch nông nghiệp của nước ta là rất yếu, mặt khác tình hình sử dụng đất đai ở các nông trường là rất lãng phí. Đại biểu đề nghị, đối tượng được hưởng miễn, giảm cần rà soát để tránh tình trạng sử dụng sai mục đích mà vẫn được hưởng miễn giảm.

Về thời hạn miễn, giảm thuế, để tạo căn cứ pháp lý ổn định cho chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp trong nhiều năm tiếp theo, động viên nông dân yên tâm sản xuất, đa số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách tán thành thời hạn miễn, giảm là 10 năm (2011 – 2020).

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, thời hạn miễn, giảm 10 năm là tương đối dài; chỉ nên miễn, giảm cho giai đoạn 5 năm, sau đó tổng kết, sửa đổi toàn diện và ban hành một đạo luật chung về chính sách thuế đối với đất đai (đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp) để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Đại biểu Vũ Quang Hải (Hưng Yên) đề nghị miễn, giảm thuế trong 5 năm (2011-2015) sau đó tổng kết để sửa đổi toàn diện Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp. Đại biểu Dương Kim Anh (Trà Vinh) đề xuất miễn, giảm thuế trong 10 năm (2011-2020).

Cũng trong chiều nay, các đại biểu thảo luận về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Theo Tờ trình của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì quan điểm chỉ đạo xây dựng dự án Luật nhằm góp phần bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và là ngày hội của toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Kế thừa và phát huy những ưu điểm, những quy định vẫn còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn, khắc phục được những hạn chế, bất cập trong những quy định của 2 Luật trên nhằm bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam; Tập trung sửa đổi, bổ sung một số vấn đề vướng mắc thật sự cấp bách của các luật về bầu cử do tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu HĐND các cấp trong cùng một ngày và trong điều kiện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại một số địa phương.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung 2 Luật trên có cấu trúc nội dung của một Luật sửa đổi, bổ sung nhiều Luật với 4 điều, bao gồm Điều 1 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; Điều 2 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Điều 3 quy định về việc đổi tên gọi các tổ chức phụ trách bầu cử; Điều 4 quy định về hiệu lực thi hành.

Khi thảo luận các đại biểu đều cho rằng để việc tổ chức thực hiện cuộc bầu cử chung Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) trong cùng một ngày có tính khả thi, bảo đảm thuận lợi, tiết kiệm cần phải có sự thống nhất về một số quy định giữa Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu HĐND.

Nhiều ý kiến cho rằng chỉ nên tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các vấn đề thật sự cấp bách nhằm tháo gỡ những vướng mắc khi thực hiện bầu cử chung đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong cùng một ngày; không đặt vấn đề sửa đổi cơ bản Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại các địa phương thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường nhiều ý kiến tán thành với Tờ trình của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chính phủ đang tiến hành tổng kết việc thực hiện thí điểm và sẽ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, trình Quốc hội xem xét, quyết định về vấn đề này vào kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII.

Ngày mai, thứ ba, ngày 26-10-2010 Quốc hội làm việc ở hội trường. Buổi sáng, Quốc hội thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Viên chức. Buổi chiều, Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm./.

Thanh Hoa


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Wednesday, October 20, 2010

Bộ trưởng Vũ Văn Ninh báo cáo về thực hiện dự toán Ngân sách Nhà nước


Ủy ban Tài chính – Ngân sách cơ bản thống nhất với đề nghị của Chính phủ về việc điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu năm 2011 từ 730.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, thực hiện phụ cấp công vụ 10%, phụ cấp thâm niêm đối với nhà giáo.

VuVanNinh

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh (ảnh: Việt Hưng).

 

Đây là nội dung do Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh báo cáo về tình hình thực hiện dự toán Ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2010, dự toán NSNN và phương án bổ sung Ngân sách trung ương năm 2011. Theo đó, một số ý kiến trong Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng: Tốc độ tăng chi thường xuyên là quá cao (19%), nếu bao gồm cả chi cải cách tiền lương (27.000 tỷ đồng) thì tốc độ tăng chi thường xuyên còn cao hơn.
Do đó, đề nghị Chính phủ cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên để giảm áp lực tăng chi NSNN rất lớn trong khi thu NSNN chỉ tăng 13,5%; bố trí tăng chi quản lý hành chính ở mức hợp lý… đồng thời nghiên cứu trình Quốc hội cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý tài chính và biên chế.
Đối với chi đầu tư phát triển, theo Ủy ban Tài chính – Ngân sách, nhu cầu đầu tư vốn phát triển của nền kinh tế là rất lớn và việc bố trí NSNN hiện nay cũng chỉ đáp ứng được một phần của nhu cầu đó.
Tuy nhiên, trong điều kiện NSNN còn có hạn, bội chi NSNN còn cao, dư nợ Chính phủ càng gần đến giới hạn an toàn thì số vốn NSNN dành cho chi đầu tư phát triển năm 2011 là một cố gắng rất lớn trong vố trí vốn đầu tư. Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành địa phương có các biện pháp tích cực để huy động vốn đầu tư thông qua các biện pháp xã hội hóa, đa dạng hóa các hình thức đầu tư và tích cực thu hút nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác, giảm dần tỷ trọng vốn đầu tư từ NSNN.
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến đề nghị Chính phủ cơ cấu lại và có tính toán cụ thể về số chi đầu tư cho phù hợp, điều chỉnh ở mức hợp lý với khả năng của NSNN.
Đồng thời Chính phủ cần tổng kết, đánh giá lại các công trình, dự án sử dụng vốn NSNN một cách toàn diện; xem xét tính hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng; kiên quyết loại bỏ khỏi danh m,ục các công trình, dự án không đủ thủ tục đầu tư, kém hiệu quả, từ đó đề xuất danh mục dự án, công trình thực hiện trong năm 2011 và các năm tiếp theo theo hướng hiệu quả cao, tránh dàn trải, phân tán.
Về tình hình thu NSNN năm 2010, báo cáo của Chính phủ cho thấy tổng thu NSNN ước cả năm đạt 520.100 tỷ đồng, vượt 12,7% (tương đương 58.600 tỷ đồng) so với dự toán, với hầu hết các khoản thu đều hoàn thành vượt dự toán, kể cả thu phí xăng dầu nhiều năm không đạt dự toán.
Ủy ban Tài chính – Ngân sách nhận xét: Chính phủ đã đánh giá tình hình thu NSNN khá tích cực so với nhiều năm trước; tuy nhiên đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, đánh giá sát thực số thu NSNN năm 2010 để làm căn cứ xây dựng dự toán năm 2011 – năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách.
Đây cũng là căn cứ để chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tăng cường quản lý thu ngân sách, khai thác tốt nguồn thu, chống thất thu, tích cực đôn đốc thu những tháng cuối năm, hạn chế số thuế nợ đọng để số thu đạt kết quả tích cực hơn.
Phân tích các nguồn thu cho thấy, thu nội địa ước đạt 325.000 tỷ đồng, vượt 10,3% so với dự toán. Trong đó, thu từ khu vực kinh tế quốc doanh tăng 8,5% so dự toán, tăng 28,9% so với năm trước là nhân tố khá tích cực.
Còn số thu từ dầu thô ước thực hiện cả năm đạt 68.600 tỷ đồng, tăng 3,5% so với dự toán, với sản lượng thanh toán đạt 14,67 triệu tấn, giá bán bình quân ở mức 73 USD/thùng. Theo Ủy ban Tài chính – Ngân sách, số thu từ dầu thô phụ thuộc nhiều vào yếu tố giá cả thị trường thế giới, do đó nhất trí với Chính phủ về số ước thực hiện.
Về định hướng sử dụng số vượt thu của NSNN 58.600 tỷ đồng, trong đó ước ngân sách trung ương vượt thu 35.600 tỷ đồng, ngân sách địa phương vượt 23.000 tỷ đồng, Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng: Số bội chi NSNN nhiều năm gần đây khá lớn, trong khi số tăng thu chưa thực sự được ưu tiên để giảm bộ chi.
Vì vậy, số tăng thu năm 2010 là cơ hội tốt để xử lý các vấn đề tài chính, cần được ưu tiên sử dụng để tăng chi trả nợ và giảm bội chi. Đa số ý kiến trong Ủy ban đề nghị nên dành mức từ 6.000 đến 10.000 tỷ đồng để giảm bội chi NSNN năm 2010 nhằm giảm áp lực về tăng bội chi NSNN những năm sau.
Đồng thời Chính phủ sớm tổng hợp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về phương án phân bổ chi tiết số vượt thu Ngân sách trung ương năm 2010 trước khi thực hiện.
Nhóm PV

(Theo website Vũ Văn Ninh)

Wednesday, September 15, 2010

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp


Chiều 13/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự thảo nghị quyết của Quốc hội về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2020.

Khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp

Theo Chính phủ, cần thiết phải ban hành nghị quyết này để khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất nông nghiệp. Hiện cả nước có khoảng 39.414 doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn, chiếm 30% tổng số doanh nghiệp của cả nước. Tuy nhiên, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản chỉ là 1.454 doanh nghiệp, với tổng nguồn vốn đầu tư khoảng 32,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 6% tổng số vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp nông thôn và 0,9% tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp cả nước.

vuvan-ninh

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh

Trong số đó, phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm 60%, doanh nghiệp có số vốn trên 200 tỷ đồng chỉ chiếm 3%, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho biết.

Cũng theo Chính phủ, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Tính đến ngày 14/7/2010, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nông nghiệp còn hiệu lực là 485 dự án với tổng số vốn đầu tư là 3,076 tỷ USD, chiếm 4,1% tổng số dự án và 1,63% tổng số vốn của dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực của cả nước.

Vì vậy, để giảm bớt khó khăn, từng bước nâng cao thu nhập và ổn định đời sống người nông dân, khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, Chính phủ đề nghị Quốc hội tiếp tục cho phép miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp với đối tượng và phạm vi miễn, giảm như đã thực hiện từ 2003-2010.

Cần minh bạch về đối tượng

Tại dự thảo nghị quyết, có 4 đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong hạn mức. Thứ nhất là hộ gia đình, cá nhân nông dân được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp (kể cả đất được thừa kế, cho tặng, nhận chuyển quyền sử dụng đất). Thứ hai, xã viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nhận đất giao khoán ổn định của doanh nghiệp, hợp tác xã để sản xuất nông nghiệp.

Đối tượng thứ ba là hộ gia đình, cá nhân là nông trường viên, lâm trường viên nhận đất giao khoán ổn định của nông, lâm trường để sản xuất nông nghiệp. Thứ tư là hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có quyền sử dụng đất nông nghiệp góp ruộng của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã.

Hộ nghèo, hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp ở các xã đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trên toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp.

Ngoài các đối tượng trên đây, một số đối tượng khác có thể được giảm 50% số thuế sử dụng đất nông nghiệp ghi thu hàng năm đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp.

Thẩm tra dự thảo nghị quyết này, Ủy ban Tài chính Ngân sách đề nghị quy định cụ thể các đối tượng không thuộc diện được miễn thuế để bảo đảm minh bạch, tránh vận dụng tùy tiện. Đồng thời, quy định rõ “đối tượng được miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp”.

Cơ quan này cũng đề nghị miễn toàn bộ số thuế sử dụng đất nông nghiệp phải nộp đối với diện tích đất sử dụng vào mục đích làm muối và trồng lúa cũng như đất sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, sản xuất thử.

Băn khoăn đất nông, lâm trường

Thống nhất cao với nhiều đề xuất của Chính phủ và đề nghị của cơ quan thẩm tra, song các vị ủy viên Thường vụ Quốc hội cũng còn khá nhiều băn khoăn xung quanh dự thảo nghị quyết.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước cho rằng cần cân nhắc thật kỹ việc miễn thuế cho nông, lâm trường viên vì “nông trường bây giờ không như ta hình dung”. Có nông trường đã “xây biệt thự hết”. Một số ý kiến khác cũng đề nghị phải có sự xem xét, quy định cụ thể với nội dung này để đảm bảo sự công bằng.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Văn Thuận cho rằng chỉ nên miễn thuế hoàn toàn cho cá nhân nghèo, cao tuổi, tàn tật và hộ gia đình nghèo, đối tượng chính sách, giảm 50% cho đối tượng khác. Nếu “miễn chằn chặn thì là cào bằng”, ông Thuận lo ngại.

Liên quan đến thời hạn miễn, giảm, bên cạnh một số ý kiến nhất trí 10 năm như đề xuất của Chính phủ, nhiều ý kiến đề nghị chỉ nên thực hiện 5 năm, sau đó tổng kết để sửa đổi toàn diện và ban hành một đạo luật chung về chính sách thuế đối với đất đai. Đồng tình với phân tích này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho rằng có thể tiếp thu để điều chỉnh thời hạn. Tuy nhiên, cả Phó chủ tịch Uông Chu Lưu và Nguyễn Đức Kiên đều cho rằng “thời hạn 10 năm cũng là hợp lý” vì lúc đó nông dân vẫn còn nhiều khó khăn.

Theo chương trình dự kiến, nghị quyết về việc miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp sẽ được Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ tám tới đây.

Theo Vneconomy


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Wednesday, May 19, 2010

Deputy Prime Minister Nguyen Thien Nhan in Japan


Japan considers Vietnam a strategic partner in Asia and will continue to help the country develop several large infrastructure projects, an official said Tuesday.A record pledge of aid to Vietnam in the midst of the economic crisis last year has demonstrated this stance, Seiji Maehara, Minister of Land, Infrastructure, Transport and Tourism, said at a meeting with Vietnamese Deputy Prime Minister Nguyen Thien Nhan, who was visiting Japan.

Seiji Maehara, Japanese Minister of Land, Infrastructure, Transport and Tourism (L) meets Vietnamese Deputy Prime Minister Nguyen Thien Nhan in Japan

Seiji Maehara, Japanese Minister of Land, Infrastructure, Transport and Tourism (L) meets Vietnamese Deputy Prime Minister Nguyen Thien Nhan in Japan

Japan will assist Vietnam in building national highways, a new terminal in Noi Bai Airport and a drainage project in Ho Chi Minh City, Maehara was cited by the Vietnamese government’s website as saying.

He also announced that Japan has agreed, in principle, to allow national carrier Vietnam Airlines to open a direct route from Vietnam to Haneda International Airport in the capital city of Tokyo.

Japan approved a record amount of aid to Vietnam of 145.631 billion yen (US$1.64 billion) for the 2009 fiscal year. The country has been committed to 28.388 billion yen ($306 million) of foreign aid for Vietnam in the first phase of the 2010 fiscal year, according to the Vietnam News Agency.

Deputy Prime Minister Nguyen Thien Nhan expressed thanks to Japan for offering loans to Vietnam and helping develop major projects that are vital to the country’s development.

Nhan was visiting Japan to attend the 16th International Conference on the Future of Asia.

PV


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Saturday, February 27, 2010

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh: “Tôi tin rằng báo sẽ phát triển mạnh hơn nữa”


VnExpress.net là một trong những tờ báo đăng tải nhiều bài viết liên quan đến các lĩnh vực của ngành tài chính như chính sách thuế, giá cả, phí, tài chính công, thị trường chứng khoán… Cá nhân tôi đánh giá, VnExpress.net là tờ báo có uy tín, tin tức cập nhật nhanh, nóng hổi và khá hấp dẫn, tuy nhiên, một số tin nếu đi sâu phân tích đầy đủ hơn thì thông tin đến bạn đọc hiệu quả hơn.

Mr-Vu-Van-Ninh

Bộ trưởng Vũ Văn Ninh. Ảnh: Hoàng Hà

Tôi tin rằng, VnExpress.net sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa, trong thời gian tới. Nhân ngày sinh nhật thứ 9 của báo, tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp tới toàn thể các phóng viên, biên tập viên, nhà báo đang làm việc và công tác tại đây. Tôi hy vọng VnExpress.net tiếp tục đăng tải những bài viết khách quan, có lợi cho kinh tế, xã hội và phát triển đất nước và sẽ là địa chỉ tin cậy của đông đảo độc giả trong và ngoài nước.

PV


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Saturday, December 19, 2009

Bộ trưởng Vũ Văn Ninh: “Cầm vốn nhà nước tâm trạng lắm!”


Ông VŨ VĂN NINH – bộ trưởng Bộ Tài chính, chủ tịch HĐQT Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) – nói như vậy với Tuổi Trẻ trong cuộc trao đổi liên quan những vấn đề của SCIC vừa được Kiểm toán Nhà nước nêu ra. Ông Ninh nói:

VuVanNinh

"Nếu nói trách nhiệm thì tôi phải có trách nhiệm dù tôi chỉ kiêm nhiệm. Nhưng phải nói thật, đã kiêm nhiệm thì thời gian dành cho SCIC không thể đầy đủ được khi vừa đảm nhận công việc của Bộ Tài chính, vừa lo công việc của SCIC" Bộ trưởng VŨ VĂN NINH

Khi Chính phủ yêu cầu kiêm nhiệm, tôi đã phân cấp, quy định rõ cái gì HĐQT quyết, cái gì chủ tịch, phó chủ tịch quyết, đồng thời cho thành lập thường trực hội đồng để hội ý nhanh hơn, sớm hơn. Tôi trình xin Thủ tướng cho anh Trần Văn Tá làm phó chủ tịch HĐQT để anh ấy linh hoạt hơn trong quá trình chỉ đạo, vì tôi đã lường thấy mình không có nhiều thời gian ngồi bên đấy.

Tôi cũng bổ sung anh Hoàng Nguyên Học – phó tổng giám đốc SCIC – vào HĐQT để bên đấy thêm người trong quyết định những vấn đề hằng ngày. Nhưng SCIC thiếu nhiều cơ chế lắm, nhiều thứ phải trình lên Thủ tướng, không phải tôi quyết được. Hiện tôi đã cho họp hội đồng để bàn những giải pháp báo cáo Thủ tướng, cũng để giải trình những vấn đề của SCIC. Tinh thần cái gì đúng thì nhận, cái gì cần thì giải trình thêm. Bước tiếp theo sẽ họp xác định rõ sai cái gì, sai ở đâu, ai chịu trách nhiệm.

* Thưa ông, kết quả kiểm toán vừa qua cho thấy hoạt động của SCIC chưa hiệu quả?

- Theo tôi, bước đầu là có hiệu quả. Vốn nhà nước đã được tăng lên và cơ cấu lại. SCIC đã bắt đầu bán được một số doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ, bình quân gấp hơn 2,3 lần mệnh giá, thấp nhất cũng 1,7 lần. Vốn nhà nước không mất, lợi nhuận trên vốn của các doanh nghiệp SCIC nhận về tăng. Như thế phải nói là có hiệu quả chứ.

* Nhưng số lãi không cao và vốn đem đầu tư vào Jetstar Pacific Airlines (JPA) bị lỗ?

- Nếu các anh đi sâu vào thì sẽ thông cảm. 87% doanh nghiệp SCIC nhận về là nhỏ, vốn dưới 10 tỉ đồng, trong đó có anh tốt, anh xấu, nợ nần. Đi sâu hơn thì có những doanh nghiệp nhỏ xíu, chỉ còn cái xác thôi. SCIC có muốn nhận đâu, nhưng nhiệm vụ nên phải nhận.

Chuyện JPA thì đúng, các anh nói có lý. Bản thân khi nó ra đời đã què quặt, ốm yếu rồi. Thành lập năm 1991, nhưng từ khi ra đời đến nay nhìn chung hãng này đều lỗ, đến năm 2005 đã lâm vào tình trạng phá sản. Đúng ra phải cho phá sản nhưng thời điểm ấy Chính phủ rất muốn giữ một hãng độc lập với Vietnam Airlines, nâng lên để cạnh tranh. Chính phủ giao Bộ Tài chính làm phương án cơ cấu lại JPA. Lúc đó ta bàn liên kết với Temasek (Singapore) không thành, nên đã bàn với Qantas và họ tham gia tối đa 30% vốn. Nhưng sau đó không lãi, cái dịch vụ mua trước xăng dầu là quả đấm “nốc ao” khiến nó càng lỗ nặng.

Tôi thừa nhận JPA lỗ mà trả lương (cho lãnh đạo) cao là sai rồi, không hợp lý. Tôi đã làm một số việc để xử lý, giờ đang phải xem rõ trách nhiệm.

* Đến nay, ông đánh giá thế nào về mô hình của SCIC?

- SCIC là mô hình rất mới nên vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Giai đoạn vừa rồi do SCIC mới ra đời, có thể coi là thí điểm, không thể đòi hỏi nó hoàn chỉnh ngay được. Tôi không đổ lỗi cho cơ chế. Nhưng sự thật có người bảo doanh nghiệp A đang lỗ, cần bán càng sớm càng tốt vì càng để lâu càng lỗ vốn. Nhưng đấu thầu giá cổ phiếu dưới giá trị thì có chấp nhận bán không? Đây là vấn đề quan điểm.

Tôi nói rất thật, người cầm vốn nhà nước đi bán dưới giá trị thì lo lắm, tâm trạng lắm. Bán xong mà giá trị thị trường của doanh nghiệp xuống thì người ta bảo ông này bán giỏi, nhưng bán xong nó lên thì lại bảo làm ăn dở. Cho nên không phải tôi thanh minh, nhưng thật sự rất khó khăn.

* Có chuyên gia cho rằng các chính khách tham gia vào HĐQT doanh nghiệp nhà nước sẽ lẫn lộn vai trò quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp, làm ảnh hưởng khi ra các quyết định liên quan đến doanh nghiệp đó?

- Tôi làm chưa thấy mắc vì luôn thấy vai gì là quản lý nhà nước, chỗ nào là quản lý doanh nghiệp. Khi xử lý vấn đề của doanh nghiệp ở vai quản lý nhà nước, bao giờ tôi cũng yêu cầu các cơ quan chuyên môn tham gia. Các thứ trưởng cũng phải ngồi nghe và đề xuất, tôi không bao giờ ký ngay. Tôi luôn phân biệt hai vai và hiện chưa bị nhầm lẫn cái này.

* Vừa qua, ông có ký quyết định giảm doanh thu năm 2008 của SCIC từ dự kiến ban đầu khoảng 1.800 tỉ đồng còn 1.300 tỉ, khiến SCIC có doanh thu vượt dự kiến 63%? Điều này đã khiến lương của SCIC cao hơn?

- Theo nguyên tắc, nhiều doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa xong được giao về SCIC quản. Ban đầu Vietcombank định giao về cho SCIC. Nhưng sau khi cổ phần hóa Thủ tướng lại không giao cho SCIC nữa. Trong khi đó, khi xây dựng kế hoạch năm 2008 chúng tôi có tính tới doanh thu từ Vietcombank, nhưng do Vietcombank không được chuyển về nên phải chỉnh lại. Tôi khẳng định việc điều chỉnh hoàn toàn vì lý do đó, tôi không có ý đồ gì về vấn đề lương cho SCIC trong chuyện này. Cái này có báo cáo HĐQT, có nghị quyết, không phải quyết định của cá nhân tôi.

* Theo ông, cần có những thay đổi gì để SCIC hoạt động hiệu quả hơn?

- Tôi đang chỉ đạo hoàn thiện điều lệ tổ chức và hoạt động của SCIC để trình Thủ tướng. Tôi cũng xác định phải xây dựng được cơ chế quản lý đầu tư vốn của Nhà nước vào các doanh nghiệp. Cái này tôi đã đề xuất rồi, trước mắt là nghị định, sau nữa phải nâng lên thành luật. Quốc hội cũng đã có nghị quyết giao cho Chính phủ nghiên cứu, xây dựng luật quản lý và kinh doanh vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp.

* Khi đó, có cần sự tham gia của các thành viên Chính phủ vào HĐQT các tổng công ty, tập đoàn nữa không?

- Bây giờ khẳng định khá khó. Tôi nghĩ làm sao phải ban hành đầy đủ cơ chế, mô hình phải rõ, sau đó sẽ tính đến chuyện này. Nhưng bản thân tôi kiêm nhiệm ở SCIC là khó khăn hơn trong công việc, nguyên chỉ thời gian thôi đã quá mệt. Nhưng vì trách nhiệm thì phải làm.

KHIẾT HƯNG – CẦM VĂN KÌNH thực hiện


(Theo website Vũ Văn Ninh)

Wednesday, November 11, 2009

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh: “Sẽ xử lý DN làm ăn thua lỗ”


KTNT- Dù Chính phủ không gửi báo cáo về hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước tới Quốc hội nhưng trong phiên thảo luận chiều 9/11, hai vị Bộ trưởng Tài chính và Kế hoạch – Đầu tư đã lên tiếng xung quanh các vấn đề về tập đoàn. Bộ trưởng Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng đăng ký trả lời nhưng sẽ được dành thời gian tại phiên chất vấn sắp tới.

vuvanninh

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh: "Sẽ xử lý DN làm ăn thua lỗ"

Những DNNN làm ăn lỗ như trong báo cáo đã nêu chủ yếu là lỗ tồn tại từ trước.

Ví dụ, Tổng Công ty xây dựng đường thủy có tới 7/8 đơn vị thành viên hạch toán độc lập chưa cổ phần hoá bị lỗ, làm mất toàn bộ vốn chủ sở hữu. Đây là lỗ đã có từ trước năm 2002 trở về trước. Từ việc mua 3 con tàu rồi hoạt động không hiệu quả, không trả được nợ nên lỗ…

Ngày 8/9/2004, Bộ Tài chính đã báo cáo Thủ tướng về vấn đề này. Ngày 18/9/2004, Bộ đã có báo cáo Chính phủ. Tiếp theo đó, đến ngày 18/7/2007, Bộ cũng đã cảnh báo về con số lỗ và đề xuất phương án xử lý.

Nhưng nội bộ của Tổng Công ty này vô cùng phức tạp, kiện cáo rất nhiều, phải giao thanh tra nên xử lý hơi chậm.

Hiện nay, Thủ tướng đã có văn bản giao Bộ GTVT và Bộ Tài chính lập phương án để xử lý triệt để.

Sắp xếp đổi mới DNNN là cả một quá trình lâu dài, vừa tìm tòi mày mò, vừa triển khai làm thí điểm rồi đến lúc tổng kết để đưa ra chủ trương. Đó cũng là quá trình thống nhất về nhận thức.

Sáng nay như đại biểu Trần Du Lịch có nêu là trước kia chúng ta có 12.000 DN. Theo đánh giá từ trước năm 90 thì có trên 70% thua lỗ.

Nhưng đến giai đoạn 2001-2005, có tới 75% DN lãi. Và bây giờ, đại bộ phận DN làm ăn có lãi.

Cổ phần hóa DN là biện pháp quan trọng.

Về văn bản pháp lý, gần đây nhất, ta có Nghị định 109. Trong đó có nội dung quan trọng là xác định giá trị doanh nghiệp, bây giờ giá cả hình thành qua thị trường chứng khoán, trong đó đã tính giá của thương hiệu và đất đai.

Về vai trò, DNNN phải thực hiện nhiệm vụ kinh tế – chính trị Nhà nước giao. Qua hai năm, năm 2008 chống lạm phát, năm 2009 chống suy giảm kinh tế, chúng ta đã thấy rõ vai trò của DNNN.

EVN không được tăng giá điện và đến nay vẫn chưa bán đúng giá thị trường, còn bán bù lỗ, dưới giá.

EVN còn phải đầu tư cho nhiệm vụ Chính phủ giao, cho vùng sâu, vùng xa. Riêng việc đầu tư cho biển đảo, bình quân mỗi năm đã lỗ khoảng 100 tỷ đồng.

Than bán cho các hộ tiêu thụ lớn cũng bán dưới giá thành. Tổng Công ty Lương thực thì mua gạo giữ giá cho nông dân.

Tập đoàn xăng dầu cũng phải bán lỗ. DNNN đóng trên địa bàn Tây Nguyên thì phải nhận lao động ở địa phương, phải đào tạo những người chưa có tay nghề.

Nếu không phải DNNN, chắc không ai làm thế. Nếu không phải Tập đoàn Dầu khí, chắc không ai đầu tư cho nhà máy lọc dầu Dung Quất, đầu tư ra Biển Đông, hải đảo.

Trong thời kỳ khủng hoảng, không hề có tập đoàn nào sa thải công nhân.

Nếu ta tách được ra nhiệm vụ sản xuất bình thường và nhiệm vụ chính trị – xã hội để đánh giá ở khía cạnh chính trị – xã hội thì hay hơn, khách quan hơn.

Chúng tôi đã chỉ đạo tập đoàn tách các nhiệm vụ này ra nhưng bản thân các tập đoàn cũng không tách được.

Vấn đề thứ ba là khi ban hành cơ chế chính sách cũng có nhiều khó khăn về quan điểm.

Chẳng hạn, các DN từ chỗ khép kín đến lúc công khai trên thị trường chứng khoán là một bước tiến lớn…

Nhiều cơ chế chính sách hiện nay chưa đồng bộ, đó là điểm khó mà chúng tôi cần gỡ.

Tổng Công ty kinh doanh SCIC cũng cần có cơ chế đặc thù. Chúng ta chưa có cơ chế bán chỉ định. Như với DN lỗ, bán 3 lần mà chưa có ai mua. Như vậy có muốn bán nhanh cũng không được. Nếu bán dưới vốn sau này sẽ bị quy tội là làm thất thoát vốn nhà nước.

Sắp tới sẽ xây dựng Nghị định về đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, tiến đến sau này trình Quốc hội ban hành Luật đầu tư kinh doanh vốn nhà nước.

Nhiều cơ chế chính sách khác sẽ được hoàn thiện như Nghị định về quản lý tiền lương của DNNN,  hoàn thiện mô hình của Tổng công ty kinh doanh vốn nhà nước làm sao để đây là tổ chức tài chính đặc thù, đại diện chức năng chủ sở hữu vốn của Nhà nước. Rồi phân công, phân cấp rõ ràng.

Hiện nay, Thủ tướng đang thay mặt Nhà nước bổ nhiệm nhân sự. Những DN đã chuyển giao cho SCIC thì SCIC đại diện sở hữu. Bộ Tài chính được phân công quản lý nhà nước về mặt tài chính.


(Theo website Vũ Văn Ninh)